Người có công

Theo qui định tại Pháp lệnh Ưu đãi người có công với các mạng số 04/2012/UBTVQH13 thì “Thương binh suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên được Nhà nước mua bảo hiểm y tế cho cha đẻ, mẹ đẻ, vợ hoặc chồng, con từ đủ 6 tuổi đến dưới 18 tuổi hoặc từ đủ 18 tuổi trở lên nếu còn tiếp tục đi học hoặc bị khuyết tật nặng, khuyết tật đặc biệt nặng”. Căn cứ qui định nêu trên, trường hợp thương binh hạng 4/4 thì thân nhân không thuộc diện được Nhà nước mua bảo hiểm y tế./.

Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 290/2005/QĐ-TTg ngày 8/11/2005 về chế độ, chính sách đối với một số đối tượng trực tiếp tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước nhưng chưa được hưởng chính sách của Đảng và Nhà nước và Quyết định số 188/2007/QĐ-TTg ngày 6/12/2007 về việc sửa đổi, bổ sung Quyết định số 290/2005/QĐ-TTg ngày 08 /11/2005 của Thủ tướng Chính phủ; đối tượng áp dụng thuộc dân sự được quy định tại Quyết định bao gồm:

- Công nhân, viên chức nhà nước trực tiếp tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước ở các chiến trường B, C, K về gia đình từ ngày 31/12/1976 trở về trước chưa được hưởng một trong các chế độ thôi việc, mất sức lao động hàng tháng và hưu trí hàng tháng;

- Thanh niên xung phong hưởng lương từ ngân sách nhà nước, cán bộ dân chính Đảng hoạt động cách mạng ở các chiến trường B, C. K từ ngày 30/4/1975 trở về trước không có thân nhân chủ yếu phải trực tiếp nuôi dưỡng ở miền Bắc để nhận trợ cấp B, C, K;

- Dân quân tập trung ở miền Bắc từ ngày 27/01/1973 trở về trước, du kích tập trung ở miền Nam (bao gồm cả lực lượng mật) từ ngày 30/4/1975 trở về trước do cấp có thẩm quyền quản lý đã về gia đình;

- Du kích thôn, ấp ở miền Nam trực tiếp tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước trong khoảng thời gian từ tháng 7 năm 1954 đến ngày 30 tháng 4 năm 1975 đã về gia đình./.

Điều 31 Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng quy định chế độ ưu đãi đối với người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế bao gồm:

1. Trợ cấp một lần;

2. Bảo hiểm y tế;

3. Khi người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế chết thì người tổ chức mai táng được nhận mai táng phí.

Trường hợp người tham gia kháng chiến được nhà nước tặng Huân chương Kháng chiến hoặc Huân chương Chiến thắng, Huy chương kháng chiến hoặc Huy chương Chiến thắng đã mất trước 01/01/1995 mà chưa được chế độ ưu đãi thì thân nhân được hưởng trợ cấp một lần mức 1.000.000 đồng. Trường hợp mất sau 01/01/1995 mà chưa được hưởng chế độ ưu đãi thì thân nhân được hưởng trợ cấp một lần tính theo thời gian tham gia kháng chiến của người có công theo quy định./.

Theo quy định của Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng thì thương binh có tỷ lệ suy giảm khả năng lao động từ 61% từ trần được giải quyết trợ cấp tiền hành tháng. Theo đó, đối với thương binh có tỷ lệ suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên đồng thời là người hưởng lương hưu khi từ trần thì thân nhân có đủ điều kiện theo quy định tại Khoản 2 Điều 32 Nghị định số 31/2013/NĐ-CP ngày 9/4/2013 của Chính phủ thì được giải quyết trợ cấp tiền tuất hàng tháng (trợ cấp tuất do Phòng LĐTBXH chi trả). Còn chế độ tuất đối với thân nhân của người hưởng lương hưu từ trần giải quyết theo quy định của pháp luật về Bảo hiểm xã hội

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 23 Nghị định số 115/2015/NĐ-CP ngày 11/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật BHXHvà Khoản 9 Điều 23 Nghị định số 33/2016/NĐ-CP ngày 10/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật BHXH về BHXH bắt buộc đối với quân nhân, công an nhân dân và người làm cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân thì thời gian ông Châu Văn Nhẹ đi bộ đội từ tháng 2/1983 đến tháng 6/1992 mà không hưởng chế độ trợ cấp theo quy định dưới đây thì được cộng nối thời gian công tác trong quân đội trước đó với thời gian công tác có đóng BHXH sau này để tính hưởng BHXH: 

- Quyết định số 47/2002/QĐ-TTg ngày 11/4/2002 của Thủ tướng Chính phủ về chế độ đối với quân nhân, công nhân viên quốc phòng tham gia kháng chiến chống Pháp đã phục viên (giải ngũ, thôi việc) từ ngày 31/12/1960 trở về trước; 

- Điểm a Khoản 1 Điều 1 của Quyết định số 290/2005/QĐ-TTg ngày 8/11/2005 của Thủ tướng Chính phủ về chế độ, chính sách đối với một số đối tượng trực tiếp tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước nhưng chưa được hưởng chế độ, chính sách của Đảng và Nhà nước; 

- Quyết định số 92/2005/QĐ-TTg ngày 29/4/2005 của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện chế độ đối với quân nhân là người dân tộc ít người thuộc Quân khu 7, Quân khu 9, tham gia kháng chiến chống Mỹ, về địa phương trước ngày 10/1/1982; Quyết định số 142/2008/QĐ-TTg ngày 27/10/2008 của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện chế độ đối với quân nhân tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước có dưới 20 năm công tác trong quân đội đã phục viên, xuất ngũ về địa phương; 

- Quyết định số 38/2010/QĐ-TTg ngày 6/5/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung Quyết định số 142/2008/QĐ-TTg ngày 27/10/2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc thực hiện chế độ đối với quân nhân tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước có dưới 20 năm công tác trong quân đội đã phục viên, xuất ngũ về địa phương; 

- Quyết định số 53/2010/QĐ-TTg ngày 20/8/2010 của Thủ tướng Chính phủ về chế độ đối với cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân tham gia kháng chiến chống Mỹ có dưới 20 năm công tác trong Công an nhân dân đã thôi việc, xuất ngũ về địa phương; 

- Quyết định số 62/2011/QĐ-TTg ngày 9/11/2011 của Thủ tướng Chính phủ về chế độ, chính sách đối với đối tượng tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, làm nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia, giúp bạn Lào sau ngày 30/4/1975 đã phục viên, xuất ngũ, thôi việc.

Về thủ tục hồ sơ: Hồ sơ và thời hạn quy định tại Khoản 1 Điều 23 và Khoản 2 Điều 26 của Quy định ban hành kèm theo Quyết định số 595/QĐ-BHXH ngày 14/4/2017 của Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam ban hành Quy trình thu BHXH, BHYT, BHTN, BHTNLĐ – BNN; quản lý sổ BHXH, thẻ BHYT, gồm: Tờ khai tham gia, điều chỉnh thông tin BHXH, BHYT (Mẫu TK1-TS); Quyết định phục viên hoặc xuất ngũ; Sổ BHXH (nếu có); Văn bản cấp có thẩm quyền xác nhận chưa hưởng chế độ (quy định chi tiết nêu ở phần trên); Thời hạn giải quyết không quá 10 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ theo quy định.

Người có công với cách mạng theo quy định tại khoản 1, Điều 2 Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng bao gồm: người hoạt động cách mạng trước 01 tháng 01 năm 1945; Người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến trước Tổng khởi nghĩa 19 tháng 8 năm 1945; Liệt sỹ; Bà mẹ Việt Nam anh hùng; Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng Lao động; Thương binh, người hư¬ởng chính sách như thương binh; bệnh binh; người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học; người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt, tù đày; người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế; người có công giúp đỡ cách mạng.

Người có công với cách mạng và thân nhân của họ được Nhà nước và cộng đồng quan tâm chăm sóc và giúp đỡ và tuỳ từng trường hợp được hưởng các chế độ ưu đãi khác khau.

Mức chuẩn để xác định các mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đối với người có công với cách mạng là 650.000 đồng được quy định tại khoản 1 Điều 1 của Nghị định số 105/2008/NĐ-CP ngày 16 tháng 9 năm 2008 của Chính phủ quy định mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đối với người có công với cách mạng và khoản 2 Điều 1 của Nghị định này quy định Bảng số 1: Bảng mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đối với người có công với cách mạng; Bảng số 2: Bảng mức trợ cấp thương tật đối với thương binh, người hưởng chính sách như thương binh; Bảng số 3: Bảng mức trợ cấp thương tật đối với thương binh loại B.

Theo quy định tại Điều 9, Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng năm 2005 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2012, thì người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945 là người được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận đã tham gia tổ chức cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945. 

- Các chế độ ưu đãi đối với người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945 bao gồm: Trợ cấp hàng tháng, phụ cấp hàng tháng; bảo hiểm y tế; điều dưỡng phục hồi sức khoẻ; cấp phương tiện trợ giúp, dụng cụ chỉnh hình cần thiết; cấp báo Nhân dân; sinh hoạt văn hoá, tinh thần phù hợp; được Nhà nước hỗ trợ cải thiện nhà ở căn cứ vào công lao và hoàn cảnh của từng người. 

- Các chế độ ưu đãi khi người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945 chết bao gồm: Người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945 đang hưởng chế độ ưu đãi quy định tại khoản 2 Điều 9 Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng năm 2005 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2007 mà chết thì người tổ chức mai táng được hưởng một khoản trợ cấp và mai táng phí; người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945 đã chết mà chưa hưởng chế độ ưu đãi quy định tại khoản 2 Điều Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng năm 2005 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2007 thì thân nhân được hưởng trợ cấp một lần; cha đẻ, mẹ đẻ, vợ hoặc chồng, con của người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945 được hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng. Các chế độ ưu đãi thực hiện theo quy định của Chính phủ.

- Con của người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945 được ưu tiên trong tuyển sinh và tạo việc làm, ưu đãi trong giáo dục và đào tạo.

Theo quy định tại Điều 11 Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng được sửa đổi năm 2012, thì Liệt sỹ là người đã hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế hoặc vì lợi ích của Nhà nước, của nhân dân được Nhà nước truy tặng Bằng "Tổ quốc ghi công" thuộc một trong cá clĩnh vực sau đây: 

a) Chiến đấu hoặc trực tiếp phục vụ chiến đấu;

b) Trực tiếp đấu tranh chính trị, đấu tranh binh vận có tổ chức với địch;

c) Hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt, tra tấn vẫn không chịu khuất phục, kiên quyết đấu tranh hoặc thực hiện chủ trương vượt tù, vượt ngục mà hy sinh;

d) Làm nghĩa vụ quốc tế;

đ) Đấu tranh chống tội phạm;

e) Dũng cảm thực hiện công việc cấp bách, nguy hiểm phục vụ quốc phòng, an ninh; dũng cảm cứu người, cứu tài sản của Nhà nước và nhân dân;

g) Do ốm đau, tai nạn khi đang làm nhiệm vụ quốc phòng, an ninh ở địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn;

h) Khi đang trực tiếp làm nhiệm vụ tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ do cơ quan có thẩm quyền giao;

i) Trực tiếp làm nhiệm vụ huấn luyện chiến đấu hoặc diễn tập phục vụ quốc phòng, an ninh có tính chất nguy hiểm;

k) Thương binh hoặc người hưởng chính sách như thương binh quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 19 của Pháp lệnh này chết vì vết thương tái phát;

I) Người mất tin, mất tích trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c, d, đ, e và g khoản này.”

Liệt sỹ hy sinh trong các trường hợp theo các điểm a, d, đ, g và h được quy định cụ thể tại Điều 3 của Nghị định số 54/2006/NĐ-CP ngày 26 tháng 5 năm 2006 là người đã hy sinh thuộc một trong những trường hợp sau:

1) Chiến đấu, tiễu phỉ, trừ gian, trấn áp phản cách mạng, lùng bắt gián điệp, biệt kích.

Trực tiếp phục vụ chiến đấu: tải đạn, cứu thương, tải thương, bảo đảm giao thông liên lạc, tiếp tế lương thực, thực phẩm, cứu chữa kho hàng, bảo vệ hàng hoá khi bị địch bắn phá;

2) Được tổ chức phân công đi làm nhiệm vụ quốc tế mà chết trong khi thực hiện nhiệm vụ hoặc bị thương, bị bệnh phải đưa về nước điều trị nhưng không cứu chữa được.

Trường hợp bị chết do tự bản thân gây nên hoặc vi phạm pháp luật, vi phạm quy định của cơ quan, đơn vị hoặc trong khi học tập, tham quan, du lịch, an dưỡng, chữa bệnh, thăm viếng hữu nghị, làm việc theo hợp đồng kinh tế, kỹ thuật, văn hoá, giáo dục, lao động thì không thuộc diện xem xét xác nhận là liệt sỹ.

3) Dũng cảm đấu tranh chống lại hoặc ngăn chặn các hành vi gây nguy hiểm cho xã hội là tội phạm được quy định trong Bộ luật hình sự.

4) Dũng cảm làm những công việc cấp bách, nguy hiểm phục vụ quốc phòng và an ninh; dũng cảm cứu người, cứu tài sản của Nhà nước và nhân dân.

5) Do ốm đau, tai nạn trong khi đang làm nhiệm vụ quốc phòng và an ninh ở địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; khi làm nhiệm vụ quy tập hài cốt liệt sỹ ở vùng rừng núi, hải đảo và ở nước ngoài.

6) Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh bị chết do vết thương tái phát trong các trường hợp:

- Suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên chết do vết thương tái phát.

- Suy giảm khả năng lao động từ 21% đến 80% chết trong khi đang điều trị vết thương tát phát tại bệnh viện cấp tỉnh trở lên.

Theo quy định tại khoản 1, Điều 14 thân nhân liệt sỹ được quy định như sau: Thân nhân liệt sỹ được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp "Giấy chứng nhận gia đình liệt sỹ", bao gồm:

a) Cha đẻ, mẹ đẻ của liệt sỹ;

b) Vợ hoặc chồng liệt sỹ là người có quan hệ hôn nhân hợp pháp hoặc hôn nhân thực tế được pháp luật công nhận; Trường hợp vợ hoặc chồng liệt sỹ đã lấy chồng hoặc vợ khác nhưng đã nuôi con liệt sỹ đến tuổi trưởng thành hoặc chăm sóc bố, mẹ liệt sỹ khi còn sống được Uỷ ban nhân dân cấp xã công nhận thì được hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng;

c) Con liệt sỹ, gồm: Con đẻ, con nuôi hợp pháp và con ngoài giá thú theo quy định của pháp luật;

d) Người có công nuôi dưỡng liệt sỹ là người đã thực sự nuôi liệt sỹ khi còn sống dưới 16 tuổi, đối xử như con đẻ, thời gian nuôi từ 10 năm trở lên.

Theo quy định tại khoản 2, Điều 14 Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng được sửa đổi năm 2012, thì các chế độ ưu đãi đối với thân nhân liệt sỹ bao gồm:

a) Trợ cấp tiền tuất một lần khi báo tử;

a) Trợ cấp tiền tuất hàng tháng theo các mức thân nhân của một liệt sĩ, thân nhân của hai liệt sĩ, thân nhân của ba liệt sĩ trở lên đối với cha đẻ, mẹ đẻ, người có công nuôi dưỡng khi liệt sĩ còn nhỏ, vợ hoặc chồng của liệt sĩ, con liệt sĩ dưới 18 tuổi hoặc từ đủ 18 tuổi trở lên nếu còn tiếp tục đi học hoặc bị khuyết tật nặng, khuyết tật đặc biệt nặng.

Trường hợp cha đẻ, mẹ đẻ, người có công nuôi dưỡng khi liệt sĩ còn nhỏ, vợ hoặc chồng liệt sĩ cô đơn không nơi nương tựa, con liệt sĩ mồ côi cả cha mẹ quy định tại điểm này thì được hưởng thêm trợ cấp tiền tuất nuôi dưỡng hàng tháng;

c) Khi báo tử, liệt sĩ không còn thân nhân quy định tại khoản 1 Điều này thì người thừa kế của liệt sĩ giữ Bằng "Tổ quốc ghi công" được hưởng khoản trợ cấp tiền tuất một lần như đối với thân nhân liệt sĩ;

đ) Liệt sĩ không còn thân nhân thuộc diện hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng thì người được giao thờ cúng liệt sĩ được hưởng trợ cấp mỗi năm một lần;

đ) Thân nhân liệt sĩ được Nhà nước mua bảo hiểm y tế; được ưu tiên giao hoặc thuê đất, mặt nước, mặt nước biển, vay vốn ưu đãi để sản xuất, miễn hoặc giảm thuế theo quy định của pháp luật; được hỗ trợ về nhà ở quy định tại khoản 4 Điều 4 của Pháp lệnh này;

e) Cha đẻ, mẹ đẻ; người có công nuôi dưỡng khi liệt sĩ còn nhỏ; vợ hoặc chồng; con liệt sĩ bị khuyết tật nặng, khuyết tật đặc biệt nặng được điều dưỡng phục hồi sức khỏe hai năm một lần.

Trường hợp cha đẻ, mẹ đẻ chỉ có một con mà người con đó là liệt sĩ hoặc cha đẻ, mẹ đẻ có hai con là liệt sĩ trở lên được điều dưỡng phục hồi sức khỏe hàng năm;

g) Thân nhân liệt sĩ đang hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng được cấp phương tiện trợ giúp, dụng cụ chỉnh hình cần thiết căn cứ vào hoàn cảnh của từng người, khả năng của Nhà nước; khi chết thì người tổ chức mai táng được nhận mai táng phí, thân nhân được hưởng một khoản trợ cấp;

h) Con liệt sĩ được hưởng chế độ ưu tiên, hỗ trợ quy định tại khoản 5 Điều 4 của Pháp lệnh này.”

 

Theo quy định tại Khoản 5, Điều 20 Nghị định số 31/2013/NĐ-CP ngày 9/4/2013 của Chính phủ, thân nhân liệt sĩ đang hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng mà chết thì người tổ chức mai táng được nhận mai táng phí; đại diện thân nhân được hưởng trợ cấp một lần bằng ba tháng trợ cấp ưu đãi.

Theo quy định tại Khoản 1, Điều 48 Nghị định số 31/2013/NĐ-CP ngày 9/4/2013 của Chính phủ, người hoạt động cách mạng hoặc hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày đang được hưởng trợ cấp hàng tháng chết thì người tổ chức mai táng được nhận mai táng phí; đại diện thân nhân được hưởng trợ cấp một lần bằng ba tháng trợ cấp ưu đãi.