Bảo hiểm xã hội

Người lao động hàng tháng đóng bằng 8% mức tiền lương hàng tháng; người sử dụng lao động hàng tháng đóng 18% mức tiền lương hàng tháng (trong đó: 3% vào quỹ ốm đau và thai sản; 1% vào quỹ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; 14% vào quỹ hưu trí và tử tuất).

Căn cứ pháp lý: Điều 85, Điều 86 Luật Bảo hiểm xã hội 2014

 

Đối với người lao động đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định thì tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội là mức lương và phụ cấp lương theo quy định của pháp luật về lao động. Từ ngày 01 tháng 01 năm 2018 trở đi, tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội là mức lương, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác theo quy định của pháp luật về lao động.

Đối với người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định thì tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội là tiền lương theo ngạch, bậc, cấp bậc quân hàm và các khoản phụ cấp chức vụ, phụ cấp thâm niên vượt khung, phụ cấp thâm niên nghề (nếu có).

Lưu ý:

Tiền lương tối đa đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc:

- Nếu người lao động có tiền lương cao hơn 20 lần mức lương cơ sở thì tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội bằng 20 lần mức lương cơ sở.

- Mức lương cơ sở năm 2015 là 1.150.000 đồng.

Căn cứ pháp lý: Điều 89 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014

 

- Khi chấm dứt hợp đồng lao động, người sử dụng lao động phải chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, trừ các trường hợp sau:

+ Người lao động đủ điều kiện về thời gian đóng bảo hiểm xã hội và tuổi hưởng lương hưu khi nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi.

+ Người lao động bị xử lý kỷ luật sa thải.

+ Người lao động bị mất việc làm do doanh nghiệp thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế hoặc do sáp nhập, hợp nhất, chia, tách doanh nghiệp, hợp tác xã.

- Mức trợ cấp thôi việc: Mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương.

- Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc.

- Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động từ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc. Trong đó:

+ Thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động bao gồm: Thời gian người lao động đã làm việc cho người sử dụng lao động; thời gian thử việc, học nghề, tập nghề để làm việc cho người sử dụng lao động; thời gian được người sử dụng lao động cử đi học; thời gian nghỉ hưởng chế độ Bảo hiểm xã hội; thời gian nghỉ hằng tuần, nghỉ việc hưởng nguyên lương; thời gian nghỉ để hoạt động công đoàn theo quy định của pháp luật về công đoàn; thời gian phải ngừng việc, nghỉ việc không do lỗi của người lao động; thời gian nghỉ vì bị tạm đình chỉ công việc và thời gian bị tạm giữ, tạm giam nhưng được trở lại làm việc do được cơ quan nhà nước có thẩm quyền kết luận không phạm tội;

+ Thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp bao gồm: Thời gian người sử dụng lao động đã đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật và thời gian người sử dụng lao động đã chi trả cùng lúc với kỳ trả lương của người lao động một khoản tiền tương đương với mức đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật;

Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm của người lao động được tính theo năm (đủ 12 tháng), trường hợp có tháng lẻ thì từ đủ 01 tháng đến dưới 06 tháng được tính bằng ½ năm; từ đủ 06 tháng trở lên được tính bằng 1 năm làm việc.

Lưu ý:

Bảo hiểm thất nghiệp được thực hiện từ 1/1/2009.

Do vậy, trên thực tế thì người lao động bắt đầu làm việc sau ngày 1/1/2009 thì sẽ không được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc mà chỉ được hưởng trợ cấp thất nghiệp từ Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp.

Căn cứ pháp lý: Điều 48 – Bộ luật Lao động năm 2012, Nghị định số 05/2015/NĐ-CP       

Tình huống thực tế:

Anh A ký hợp đồng không xác định thời hạn với Công ty H ở Hà Nội với công việc là nhân viên kỹ thuật từ tháng 1/2006 với tiền lương mỗi tháng theo hợp đồng là 4.5000.000 đồng.

Do Công ty H chuyển trụ sở vào Hồ Chí Minh, anh Hoàng không thể theo Công ty vào đó làm việc nên 2 bên thỏa thuận chấm dứt hợp đồng vào tháng 10/2012.

Anh A tham gia đóng bảo hiểm thất nghiệp vào tháng 1/2009.

Như vậy, khi chấm dứt hợp đồng với công ty H, anh A được Công ty H chi trả trợ cấp thôi việc là: 3 năm x 4.500.000 đồng/ tháng x 50% = 6.750.000 đồng (Thời gian tính trợ cấp thôi việc là từ 1/2006 đến 1/2009 = 3 năm; Tiền lương tính trợ cấp thôi việc là: 4.500.000 đồng)

Đến tháng 4/2013, Công ty H có mở chi nhánh tại Hà Nội và tiếp tục mời anh A đến làm việc và ký hợp đồng không xác định thời hạn với anh A, mức lương theo hợp đồng là 7.000.000 đồng/ tháng. Đến tháng 10/2013, chi nhánh công ty H ở Hà Nội, nơi anh A làm việc bị cháy rụi hoàn toàn. Công ty H buộc phải đóng cửa chi nhánh này và cho toàn bộ nhân viên tại chi nhánh này thôi việc, trong đó có anh A.

Do thời gian từ tháng 4/2013 đến tháng 10/2013 anh A đóng bảo hiểm thất nghiệp và tháng 10/2012 anh A đã nhận trợ cấp thôi việc của công ty H, nên thời gian làm việc của anh A để hưởng trợ cấp thôi việc là 0. Do vậy, công ty H không có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho thời gian làm việc này của anh A.

 

- Khi người sử dụng lao động do thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế; hoặc khi sáp nhập, hợp nhất, chia, tách doanh nghiệp, hợp tác xã mà phải cho người lao động thôi việc thì người sử dụng lao động phải trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động đã làm việc thường xuyên cho mình từ 12 tháng trở lên.

- Mức trợ cấp mất việc làm: Mỗi năm làm việc được trả 01 tháng tiền lương nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương.

- Tiền lương để tính trợ cấp mất việc làm là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động mất việc làm.

- Thời gian làm việc để tính trợ cấp mất việc làm là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc.

Căn cứ pháp lý: Điều 49 – Bộ luật Lao động 2012

 

Theo quy định tại Điều 25 Luật Bảo hiểm xã hội quy định về điều kiện hưởng chế độ ốm đau đối với các trường hợp cụ thể:

1. Bản thân ngườilao động bị ốm đau, tai nạn phải nghỉ việc và có văn bản xác nhận của cơ sở khám chữa bệnh có thẩm quyền.

2. Người lao động phải nghỉ việc để chăm sóc con dưới 07 tuổi bị ốm đau và có văn bản xác nhận của cơ sở khám chữa bệnh có thẩm quyền.

 

Khoản 2 Điều 3 Thông tư số 59/2015/TT-BLĐTBXH quy định không giải quyết chế độ ốm đau đối với những trường hợp, cụ thể:

Trường hợp ốm đau, tai nạn phải nghỉ việc do tự hủy hoại sức khỏe, do say rượu hoặc sử dụng chất ma túy, tiền chất ma túy theo danh mục do Chính phủ quy định.

- Người lao động nghỉ việc lần đầu do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.

- Người lao động bị ốm đau, tai nạn mà không phải là tai nạn lao động trong thời gian đang nghỉ phép hằng năm, nghỉ việc riêng, nghỉ không hưởng lương theo quy định của pháp luật lao động; nghỉ việc hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.

 

Theo quy định tại khoản 1 Điều 26 Luật Bảo hiểm xã hội và khoản 1 Điều 4 Thông tư số 59/2015/TT-BLĐTBXH thì:

Thời gian tối đa hưởng chế độ ốm đau trong một năm đối với người lao động được tính theo ngày làm việc không kể ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, nghỉ hàng tuần theo quy định của pháp luật về lao động. Thời gian này được tính kể từ ngày 01 tháng 01 đến ngày 31 tháng 12 của năm dương lịch, không phụ thuộc vào thời điểm bắt đầu tham gia bảo hiểm xã hội của người lao động được quy định như sau:

- Đối với người lao động làm việc trong điều kiện bình thường thì được hưởng chế độ ốm đau trong một năm:

+ 30 ngày nếu đã đóng bảo hiểm xã hội dưới 15 năm;

+ 40 ngày nếu đã đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 15 năm đến dưới 30 năm’

+ 60 ngày nếu đã đóng từ đủ 30 năm trở lên.

- Đối với người làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế ban hành hăọc làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số từ 0,7 trở lên thì được hưởng chế độ ốm đau trong một năm:

+ 40 ngày nếu đã đóng bảo hiểm xã hội dưới 15 năm;

+ 50 ngày nếu đã đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 15 năm đến dưới 30 năm;

+ 70 ngày nếu đã đóng từ đủ 30 năm trở lên.

Ví dụ 1: Ông D là công nhân may, chế độ làm việc theo ca; ông D được bố trí ngày nghỉ hàng tuần như sau: tuần từ ngày 04/01/2016 đến ngày 10/01/2016 vào ngày thứ Tư ngày 06/01/2016, tuần từ ngày 11/01/2016 đến ngày 17/01/2016 vào ngày thứ Sáu ngày 15/01/2016. Do bị ốm đau bệnh tật, ông D phải nghỉ việc điều trị bệnh từ ngày 07/01/2016 đến ngày 17/01/2016.

Thời gian hưởng chế độ ốm đau của ông D được tính từ ngày 07/01/2016 đến ngày 17/01/2016 là 10 ngày (trừ 01 ngày nghỉ hàng tuần là ngày thứ Sáu ngày 15/01/2016)

Ví dụ 2: Bà A, có 13 năm đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, làm việc trong điều kiện bình thường; từ tháng 01/2016 đến tháng 9/2016 bà A đã nghỉ việc hưởng chế độ ốm đau đủ 30 ngày. Tháng 10/2016, bà A chuyển sang làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm. Ngày 25/10/2016, bà A bị ốm đau phải nghỉ 07 ngày làm việc.

Tại thời điểm nghỉ việc (tháng 10/2016), bà A làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm nên thời gian nghỉ việc hưởng chế độ ốm đau tối đa trong năm của bà A là 40 ngày, tính đến thời điểm ngày 25/10/2016 bà A mới nghỉ hưởng chế độ ốm đau 30 ngày trong năm 2016, do đó thời gian nghỉ việc 07 ngày do bị ốm đau của bà A được giải quyết hưởng trợ cấp ốm đau.

Ví dụ 3: Bà B có thời gian đóng bảo hiểm xã hội được 10 năm, làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; từ tháng 01/2016 đến tháng 8/2016, đã nghỉ việc hưởng chế độ ốm đau 37 ngày; từ tháng 9/2016 bà B chuyển sang làm công việc trong điều kiện bình thường. Ngày 26/9/2016, bà B bị ốm đau phải nghỉ 03 ngày làm việc.

Tại thời điểm nghỉ việc do ốm đau (tháng 9/2016), bà B làm việc trong điều kiện bình thường nên thời gian nghỉ việc hưởng chế độ ốm đau tối đa trong năm của bà B là 30 ngày; tại thời điểm đó bà B đã hưởng chế độ ốm đau 37 ngày trong năm 2016, do đó bà B không được hưởng trợ cấp ốm đau đối với 03 ngày nghỉ việc từ ngày 26/9/2016.

Khoản 4, 5 Điều 4 Thông tư số 59/2015/TT-BLĐTBXH quy định:

- Đối với trường hợp người lao động bị ốm đau, tai nạn mà không phải là tai nận lao động trong thời gian đang nghỉ phép hàng năm, nghỉ việc riêng, nghỉ không hưởng lương theo quy định của pháp luật lao động thì thời gian ốm đau, tai nạn trùng với thời gian nghỉ phép hàng năm, nghỉ việc riêng, nghỉ không hưởng lương không được tính hưởng trợ cấp ốm đau; thời gian nghri việc do bị ốm đau, tai nạn ngoài thời gian nghỉ phép hàng năm, nghỉ việc riêng, nghỉ không hưởng lương được tính hưởng chế độ ốm đau theo quy định.

- Đối với trường hợp người lao động có thời gian nghỉ việc hưởng chế độ ốm đau từ cuối năm trước chuyển sang đầu năm sau thì thời gian nghỉ hưởng chế độ ốm đau của năm nào tính vào thời gian hưởng chế độ ốm đau của năm đó.

Theo quy định tại khoản 4 Điều 4 của Thông tư số 59/2015/TT-BLĐTBXH ngày 29/12/2015 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội thì người người lao động bị ốm đau, tai nạn mà không phải là tai nạn lao động trong thời gian đang nghỉ phép hằng năm, nghỉ việc riêng, nghỉ không hưởng lương theo quy định của pháp luật lao động thì thời gian ốm đau, tai nạn trùng với thời gian nghỉ phép hằng năm, nghỉ việc riêng, nghỉ không hưởng lương không được tính hưởng trợ cấp ốm đau; thời gian nghỉ việc do bị ốm đau, tai nạn ngoài thời gian nghỉ phép hằng năm, nghỉ việc riêng, nghỉ không hưởng lương được tính hưởng chế độ ốm đau theo quy định.

Như vậy, trường hợp người lao động bị ốm đau trong thời gian đang nghỉ phép năm thì sẽ không được giải quyết hưởng chế độ ốm đau cho thời gian đang nghỉ phép năm.

Theo khoản 1 Điều 27 Luật Bảo hiểm xã hội

Thời gian tối đa hưởng chế độ khi con ốm đau trong một năm cho mỗi con của người lao động được tính theo ngày làm việc không kể ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, nghỉ hàng tuần theo quy định. Thời gian này được tính kể từ ngày 01 tháng 01 đến ngày 31 tháng 12 của năm dương lịch, không phụ thuộc vào thời điểm bắt đầu tham gia bảo hiểm xã hội của người lao động, cụ thể:

Thời gian hưởng chế độ khi con ốm đau trong một năm cho mỗi con được tính theo số ngày chăm sóc con:

+ Tối đa 20 ngày làm việc nếu con dưới 03 tuổi;

+ Tối đa là 15 ngày làm việc néu con từ đủ 03 tuổi đến dưới 07 tuổi.