Việc làm

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 53 của Luật Việc làm thì người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp bị tạm dừng hưởng trợ cấp thất nghiệp khi không thông báo về việc tìm kiếm việc làm hằng tháng theo quy định tại Điều 52 của Luật này.

Căn cứ pháp lý: Luật Việc làm

 

Theo quy định tại Khoản 3 Điều 53 của Luật Việc làm thì người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp bị chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp trong các trường hợp sau đây:

a) Hết thời hạn hưởng trợ cấp thất nghiệp;

b) Tìm được việc làm;

c) Thực hiện nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ công an;

d) Hưởng lương hưu hằng tháng;

đ) Sau 02 lần từ chối nhận việc làm do trung tâm dịch vụ việc làm nơi đang hưởng trợ cấp thất nghiệp giới thiệu mà không có lý do chính đáng;

e) Không thực hiện thông báo tìm kiếm việc làm hằng tháng theo quy định tại Điều 52 của Luật này trong 03 tháng liên tục;

g) Ra nước ngoài để định cư, đi lao động ở nước ngoài theo hợp đồng;

h) Đi học tập có thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên;

i) Bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vi phạm pháp luật bảo hiểm thất nghiệp;

k) Chết;

l) Chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

m) Bị tòa án tuyên bố mất tích;

n) Bị tạm giam; chấp hành hình phạt tù.

Căn cứ pháp lý: Luật Việc làm

Theo quy định tại Điều 9 Nghị định số 102/2013/NĐ-CP thì điều kiện cấp giấy phép lao động đối với người lao động nước ngoài như sau:

- Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật;

- Có sức khỏe phù hợp với yêu cầu công việc;

- Là nhà quản lý, giám đốc điều hành, chuyên gia hoặc lao động kỹ thuật;

Đối với người lao động nước ngoài hành nghề khám bệnh, chữa bệnh, trực tiếp khám bệnh, chữa bệnh tại Việt Nam hoặc làm việc trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo và dạy nghề phải có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật Việt Nam về khám bệnh, chữa bệnh, giáo dục, đào tạo và dạy nghề;

- Không phải là người phạm tội hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật nước ngoài;

- Được chấp thuận bằng văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc sử dụng người lao động nước ngoài.

Căn cứ pháp lý:

- Bộ luật lao động năm 2012;

- Nghị định số 102/2013/NĐ-CP.

Theo Khoản 1 Điều 12 của Nghị định số 102/2013/NĐ-CP thì trước ít nhất 15 ngày làm việc, kể từ ngày người lao động nước ngoài dự kiến bắt đầu làm việc cho người sử dụng lao động thì người sử dụng lao động phải nộp hồ sơ đề nghị cấp giấy phép lao động cho Sở Lao động - Thương binh và Xã hội nơi người lao động nước ngoài có toàn bộ thời gian làm việc cho người sử dụng lao động. Như vậy, người sử dụng lao động phải phải làm thủ tục xin cấp giấy phép lao động cho người nước ngoài trước khi làm việc tại Việt Nam.

Trường hợp người lao động nước ngoài không có toàn bộ thời gian làm việc cho người sử dụng lao động tại một tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thì hồ sơ đề nghị cấp giấy phép lao động nộp cho Sở Lao động - Thương binh và Xã hội nơi đóng trụ sở chính của người sử dụng lao động.

Căn cứ pháp lý:

- Bộ luật lao động năm 2012;

- Nghị định số 102/2013/NĐ-CP.

Theo quy định tại Điều 3 Thông tư số 03/2014/TT-BLĐTBXH thì trước ít nhất 30 ngày kể từ ngày người sử dụng lao động (trừ nhà thầu) dự kiến tuyển người lao động nước ngoài, người sử dụng lao động phải báo cáo giải trình về nhu cầu sử dụng người lao động nước ngoài, bao gồm: vị trí công việc, số lượng, trình độ chuyên môn, kinh nghiệm, mức lương, thời gian làm việc và nộp trực tiếp tới Sở Lao động - Thương binh và Xã hội nơi người sử dụng lao động đặt trụ sở chính.

Sở Lao động - Thương binh và Xã hội thông báo việc chấp thuận sử dụng người lao động nước ngoài tới người sử dụng lao động trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được báo cáo giải trình nhu cầu sử dụng người lao động nước ngoài của người sử dụng lao động.

Căn cứ pháp lý:

- Bộ luật lao động năm 2012;

- Nghị định số 102/2013/NĐ-CP;

- Thông tư số 03/2014/TT-BLĐTBXH.

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 4 Thông tư số 03/2014/TT-BLĐTBXH thì trước ít nhất 02 tháng đối với đề nghị tuyển từ 500 người lao động Việt Nam trở lên và trước ít nhất 01 tháng đối với đề nghị tuyển dưới 500 người lao động Việt Nam, nhà thầu có trách nhiệm gửi đề nghị trực tiếp hoặc qua bưu điện tới Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh nơi nhà thầu thực hiện gói thầu sau khi có xác nhận của chủ đầu tư về việc chấp thuận sử dụng người lao động nước ngoài.

Căn cứ pháp lý:

- Bộ luật lao động năm 2012;

- Nghị định số 102/2013/NĐ-CP;

- Thông tư số 03/2014/TT-BLĐTBXH.

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 2 Nghị định số 111/2011/NĐ-CP ngày 5/12/2011 của Chính phủ về chứng nhận lãnh sự, hợp pháp hóa lãnh sự thì hợp pháp hóa lãnh sự là việc cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam chứng nhận con dấu, chữ ký, chức danh trên giấy tờ, tài liệu của nước ngoài để giấy tờ, tài liệu đó được công nhận và sử dụng tại Việt Nam và không chịu trách nhiệm về nội dung cũng như ngôn ngữ của tài liệu, giấy tờ đó.

Như vậy, giấy tờ trong hồ sơ đề nghị cấp giấy phép lao động của người lao động nước ngoài do nước ngoài cấp (không phân biệt bằng tiếng Việt Nam hay song ngữ) thì phải hợp pháp hóa lãnh sự theo quy định tại Điều 10 Nghị định số 102/2013/NĐ-CP ngày 05 tháng 9 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật lao động về lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam.

Căn cứ pháp lý:

- Bộ luật lao động năm 2012;

- Nghị định số 102/2013/NĐ-CP;

- Nghị định số 111/2011/NĐ-CP.

Theo quy định tại Điều 10 của Nghị định số 102/2013/NĐ-CP thì các giấy tờ như: giấy chứng nhận sức khỏe; văn bản xác nhận không phải là người phạm tội hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình; văn bản xác nhận là nhà quản lý, giám đốc điều hành, chuyên gia hoặc lao động kỹ thuật nếu bằng tiếng nước ngoài thì phải được hợp pháp hóa lãnh sự, trừ trường hợp được miễn hợp pháp hóa lãnh sự theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước ngoài liên quan đều là thành viên hoặc theo nguyên tắc có đi có lại hoặc theo quy định của pháp luật và dịch ra tiếng Việt, chứng thực theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Căn cứ pháp lý:

- Bộ luật lao động năm 2012;

- Nghị định số 102/2013/NĐ-CP.

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 10 Nghị định số 102/2013/NĐ-CP thì hồ sơ đề nghị cấp giấy phép lao động của người lao động nước ngoài phải có giấy chứng nhận sức khỏe được cấp ở nước ngoài hoặc ở Việt Nam theo quy định của Bộ Y tế.

Như vậy, trường hợp người nước ngoài chưa nhập cảnh vào Việt Nam thì có thể sử dụng giấy chứng nhận sức khỏe được cấp ở nước ngoài do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cấp.

Căn cứ pháp lý:

- Bộ luật lao động năm 2012;

- Nghị định số 102/2013/NĐ-CP

Đối với người nước ngoài đã làm việc tại nhiều quốc gia thì có thể dùng các giấy tờ chứng minh hoặc văn bản xác nhận của các cơ quan, tổ chức tại các quốc gia đó để cộng dồn số năm kinh nghiệm làm việc của mình.

Theo quy định đối với các giấy tờ chứng minh là chuyên gia tại Điểm b Khoản 3 Điều 5 của Thông tư số 03/2014/TT-BLĐTBXH thì ngoài giấy tờ chứng minh kinh nghiệm làm việc, người lao động nước ngoài có thể sử dụng văn bản xác nhận là chuyên gia do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền hoặc doanh nghiệp tại nước ngoài công nhận.

Căn cứ pháp lý:

- Bộ luật lao động năm 2012;

- Nghị định số 102/2013/NĐ-CP;

- Thông tư số 03/2014/TT-BLĐTBXH.