An toàn lao động

Việc đảm bảo an toàn lao động trong doanh nghiệp là hết sức cần thiết, vì vậy trong quá trình làm việc, người lao động phải tuân thủ các nghĩa vụ của người lao động đối với công tác an toàn lao động, vệ sinh lao động như sau:

- Chấp hành các quy định, quy trình, nội quy về an toàn lao động, vệ sinh lao động có liên quan đến công việc được giao làm.

- Sử dụng và bảo quản các phương tiện bảo vệ cá nhân đã được trang cấp, các thiết bị an toàn lao động, vệ sinh lao động tại nơi làm việc.

- Báo cáo kịp thời với người có trách nhiệm khi phát hiện có nguy cơ gây tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, gây độc hại hoặc sự cố nguy hiểm, tham gia cấp cứu và khắc phục hậu quả tai nạn lao động khi có lệnh của người sử dụng lao động.

Và pháp luật cũng quy định người lao động có các quyền sau đây:

- Từ chối làm công việc hoặc rời bỏ nơi làm việc mà vẫn được trả đủ tiền lương và không bị coi là vi phạm kỷ luật lao động khi thấy rõ có nguy cơ xảy ra tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, đe dọa nghiêm trọng tính mạng hoặc sức khỏe của mình và phải báo ngay với người phụ trách trực tiếp. Người sử dụng lao động không được buộc người lao động tiếp tục làm việc đó hoặc trở lại nơi làm việc đó nếu nguy cơ chưa được khắc phục.

- Được người sử dụng lao động huấn luyện về an toàn lao động và vệ sinh lao động.

- Khi làm công việc có yếu tố nguy hiểm độc hại thì được người sử dụng lao động bồi dưỡng bằng hiện vật theo quy định của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội và cấm trả tiền thay cho việc bồi dưỡng bằng hiện vật.

- Được trang bị đầy đủ phương tiện bảo vệ cá nhân đạt tiêu chuẩn về chất lượng và người lao động bắt buộc phải sử dụng trong quá trình làm việc, kể cả phải đeo khẩu trang.

- Được khám sức khỏe định kỳ hàng năm. Người sử dụng lao động chịu trách nhiệm tổ chức khám sức khỏe và chi trả chi phí khám sức khỏe.

- Người lao động làm việc ở nơi có yếu tố gây nhiễm độc, nhiễm trùng, khi hết giờ làm việc phải được người sử dụng lao động đảm bảo các biện pháp khử độc, khử trùng.

Căn cứ pháp lý: Điều 138, Điều 140 – Bộ luật Lao động năm 2012

 

Bệnh nghề nghiệp là bệnh phát sinh do điều kiện lao động có hại của nghề nghiệp, tác động đối với người lao động, bệnh xảy ra từ từ hoặc cấp tính. Một số bệnh nghề nghiệp không chữa khỏi và để lại di chứng. Bệnh nghề nghiệp có thể phòng tránh được.

Nguyên tắc chung đề xác định bệnh nghề nghiệp là:

1. Đối tượng xác định phải có căn cứ tiếp xúc với yếu tố độc hại trong quá trình lao động đủ thời gian đảm bảo có thể gây bệnh. Thời gian đảm bảo tùy loại bệnh do Bộ Y tế quy định. Căn cứ tiếp xúc là kết quả đo môi trường lao động trong thời gian đối tượng làm việc và hồ sơ quá trình làm việc có xác nhận của chủ sử dụng lao động.

2. Phải có các dấu hiệu, triệu chứng của bệnh theo tiêu chuẩn xác định bệnh do Bộ Y tế quy định với từng loại bệnh.

3. Cơ sở y tế khám xác định bệnh phải có khoa, phòng khám bệnh nghề nghiệp được Bộ Y tế chấp thuận đủ năng lực chuyên môn.

4. Phải được hội chẩn và kết luận với ít nhất một Giám định viên của Hội đồng Giám định Y khoa.

  Người bị bệnh nghề nghiệp được:

1. Doanh nghiệp: tổ chức khám phát hiện, điều trị và giám định khả năng lao động cho người bị bệnh nghề nghiệp. Căn cứ vào biên bản giám định y khoa, doanh nghiệp bố trí công việc phù hợp với sức khỏe, lập hồ sơ theo dõi sức khỏe riêng; chuyển công việc mới cách li với yếu tố độc hại; định kì hàng năm đưa đi khám sức khỏe, điều dưỡng, phục hồi chức năng; thực hiện bồi thường hoặc trợ cấp bệnh nghề nghiệp.

2. Bảo hiểm xã hội: Trợ cấp một lần hoặc hàng tháng tùy theo tỷ lệ suy giảm khả năng lao động như chế độ đối với người bị tai nạn lao động; Dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ sau khi điều trị thương tật, bệnh tật: Người lao động sau khi điều trị ổn định thương tật do tai nạn lao động hoặc bệnh tật do bệnh nghề nghiệp mà sức khỏe còn yếu thì được nghỉ dưỡng sức phục hồi sức khoẻ từ năm ngày đến mười ngày. Mức hưởng một ngày bằng 25% mức lương tối thiểu chung nếu nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ tại gia đình; bằng 40% mức lương tối thiểu chung nếu nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ tại cơ sở tập trung; Người bị bệnh nghề nghiệp được xét nghỉ hưu trước tuổi nếu đủ 15 năm làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm.

- Tai nạn lao động là tai nạn gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể hoặc gây tử vong cho người lao động, xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động. Bệnh nghề nghiệp là bệnh phát sinh do điều kiện lao động có hại của nghề nghiệp tác động đối với người lao động.

- Quá trình làm việc, trong trường hợp rủi ro mà người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nhiệp thì người sử dụng lao động có trách nhiệm:

+ Thanh toán phần chi phí đồng chi trả và những chi phí không nằm trong danh mục do bảo hiểm y tế chi trả đối với người lao động tham gia bảo hiểm y tế và thanh toán toàn bộ chi phí y tế từ khi sơ cứu, cấp cứu đến khi điều trị ổn định đối với người lao động không tham gia bảo hiểm y tế.

+ Trả đủ tiền lương theo hợp đồng lao động cho người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp phải nghỉ việc trong thời gian điều trị.

+ Bồi thường cho người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp mà không do lỗi của người lao động và bị suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên.

Trường hợp do lỗi của người lao động thì người lao động cũng được trợ cấp một khoản tiền ít nhất bằng 40% mức quy định tại khoản 3 Điều này.

- Ngoài ra, nếu người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc thì người sử dụng lao động và tổ chức bảo hiểm xã hội có trách nhiệm giải quyết chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp cho người lao động.

Đối với người lao động thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc mà người sử dụng lao động chưa đóng bảo hiểm xã hội cho cơ quan bảo hiểm xã hội, thì được người sử dụng lao động trả khoản tiền tương ứng với chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội.

- Khi sức khỏe của người lao động bình phục thì người sử dụng lao động và người lao động thỏa thuận tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động hoặc sửa đổi, bổ sung nội dung hợp đồng lao động hoặc chấm dứt hợp đồng lao động đã giao kết theo quy định của pháp luật.

Lưu ý: Mức bồi thường theo tỷ lệ suy giảm khả năng lao động:

- Ít nhất bằng 1,5 tháng tiền lương theo hợp đồng nếu bị suy giảm từ 5,0% đến 10% khả năng lao động, sau đó cứ tăng 1,0% được cộng thêm 0,4 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động nếu bị suy giảm khả năng lao động từ 11% đến 80%.

- Ít nhất 30 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động cho người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên hoặc cho thân nhân người lao động bị chết do tai nạn lao động.

Căn cứ pháp lý: Điều 49 – Bộ luật Lao động 2012; Điều 5 – Nghị định 44/2013/NĐ-CP

 

An toàn lao động  là giải pháp phòng, chống tác động của các yếu tố nguy hiểm nhằm bảo đảm không xảy ra thương tật, tử vong đối với con người trong quá trình lao động.

Vệ sinh lao động là giải pháp phòng, chống tác động của yếu tố có hại gây bệnh tật, làm suy giảm sức khỏe cho con người trong quá trình lao động

Việc đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động dựa trên những nguyên tắc sau:

- Bảo đảm quyền của người lao động được làm việc trong điều kiện an toàn, vệ sinh lao động.

- Tuân thủ đầy đủ các biện pháp an toàn, vệ sinh lao động trong quá trình lao động; ưu tiên các biện pháp phòng ngừa, loại trừ, kiểm soát các yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại trong quá trình lao động.

- Tham vấn ý kiến tổ chức công đoàn, tổ chức đại diện người sử dụng lao động, Hội đồng về an toàn, vệ sinh lao động các cấp trong xây dựng, thực hiện chính sách, pháp luật, chương trình, kế hoạch về an toàn, vệ sinh lao động.

Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động có những quyền sau:

- Được bảo đảm các điều kiện làm việc công bằng, an toàn, vệ sinh lao động; yêu cầu người sử dụng lao động có trách nhiệm bảo đảm điều kiện làm việc an toàn, vệ sinh lao động trong quá trình lao động, tại nơi làm việc.

- Được cung cấp đầy đủ về các yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại tại nơi làm việc và những biện pháp phòng, chống; được đào tạo, huấn luyện về an toàn, vệ sinh lao động;

- Được thực hiện chế độ bảo hộ lao động, chăm sóc sức khỏe, khám phát hiện bệnh nghề nghiệp; được người sử dụng lao động đóng bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, được hưởng đầy đủ chế độ đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; được trả phí khám giám định thương tật, bệnh tật do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; được chủ động đi khám giám định mức suy giảm khả năng lao động và được trả phí khám giám định trong trường hợp kết quả khám giám định đủ điều kiện để điều chỉnh tăng mức hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp;

- Yêu cầu người sử dụng lao động bố trí công việc phù hợp sau khi điều trị ổn định do bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp;

- Từ chối làm việc hoặc rời bỏ nơi làm việc mà vẫn được trả đủ tiền lương và không bị coi là vi phạm kỷ luật lao động khi thấy rõ các nguy cơ xảy ra tai  nạn lao động đe dọa nghiêm trọng tính mạng hoặc sức khỏe của mình nhưng phải báo ngay cho người quản lý trực tiếp để có phương án xử lý; chỉ tiếp tục làm việc khi người quản lý trực tiếp và người phụ trách công tác an toàn, vệ sinh lao động đã khắc phục các nguy cơ để  bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động;

- Khiếu nại, tố cáo hoặc khởi kiện theo quy định của pháp luật.

Khoản 2, Điều 38 Luật An toàn, vệ sinh lao động quy định trách nhiệm của người sử dụng lao động đối với người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

Thanh toán chi phí y tế từ khi sơ cứu, cấp cứu đến khi điều trị ổn định cho người bị tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp như sau:

a) Thanh toán phần chi phí đồng chi trả và những chi phí không nằm trong danh mục do bảo hiểm y tế chi trả đối với người lao động tham gia bảo hiểm y tế;

b) Trả phí khám giám định mức suy giảm khả năng lao động đối với những trường hợp kết luận suy giảm khả năng lao động dưới 5% do người sử dụng lao động giới thiệu người lao động đi khám giám định mức suy giảm khả năng lao động tại Hội đồng giám định y khoa;

c) Thanh toán toàn bộ chi phí y tế đối với người lao động không tham gia bảo hiểm y tế;