An toàn vệ sinh lao động

Bệnh nghề nghiệp là bệnh phát sinh do điều kiện lao động có hại của nghề nghiệp, tác động đối với người lao động, bệnh xảy ra từ từ hoặc cấp tính. Một số bệnh nghề nghiệp không chữa khỏi và để lại di chứng. Bệnh nghề nghiệp có thể phòng tránh được.

Nguyên tắc chung đề xác định bệnh nghề nghiệp là:

1. Đối tượng xác định phải có căn cứ tiếp xúc với yếu tố độc hại trong quá trình lao động đủ thời gian đảm bảo có thể gây bệnh. Thời gian đảm bảo tùy loại bệnh do Bộ Y tế quy định. Căn cứ tiếp xúc là kết quả đo môi trường lao động trong thời gian đối tượng làm việc và hồ sơ quá trình làm việc có xác nhận của chủ sử dụng lao động.

2. Phải có các dấu hiệu, triệu chứng của bệnh theo tiêu chuẩn xác định bệnh do Bộ Y tế quy định với từng loại bệnh.

3. Cơ sở y tế khám xác định bệnh phải có khoa, phòng khám bệnh nghề nghiệp được Bộ Y tế chấp thuận đủ năng lực chuyên môn.

4. Phải được hội chẩn và kết luận với ít nhất một Giám định viên của Hội đồng Giám định Y khoa.

  Người bị bệnh nghề nghiệp được:

1. Doanh nghiệp: tổ chức khám phát hiện, điều trị và giám định khả năng lao động cho người bị bệnh nghề nghiệp. Căn cứ vào biên bản giám định y khoa, doanh nghiệp bố trí công việc phù hợp với sức khỏe, lập hồ sơ theo dõi sức khỏe riêng; chuyển công việc mới cách li với yếu tố độc hại; định kì hàng năm đưa đi khám sức khỏe, điều dưỡng, phục hồi chức năng; thực hiện bồi thường hoặc trợ cấp bệnh nghề nghiệp.

2. Bảo hiểm xã hội: Trợ cấp một lần hoặc hàng tháng tùy theo tỷ lệ suy giảm khả năng lao động như chế độ đối với người bị tai nạn lao động; Dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ sau khi điều trị thương tật, bệnh tật: Người lao động sau khi điều trị ổn định thương tật do tai nạn lao động hoặc bệnh tật do bệnh nghề nghiệp mà sức khỏe còn yếu thì được nghỉ dưỡng sức phục hồi sức khoẻ từ năm ngày đến mười ngày. Mức hưởng một ngày bằng 25% mức lương tối thiểu chung nếu nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ tại gia đình; bằng 40% mức lương tối thiểu chung nếu nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ tại cơ sở tập trung; Người bị bệnh nghề nghiệp được xét nghỉ hưu trước tuổi nếu đủ 15 năm làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm.

- Tai nạn lao động là tai nạn gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể hoặc gây tử vong cho người lao động, xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động. Bệnh nghề nghiệp là bệnh phát sinh do điều kiện lao động có hại của nghề nghiệp tác động đối với người lao động.

- Quá trình làm việc, trong trường hợp rủi ro mà người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nhiệp thì người sử dụng lao động có trách nhiệm:

+ Thanh toán phần chi phí đồng chi trả và những chi phí không nằm trong danh mục do bảo hiểm y tế chi trả đối với người lao động tham gia bảo hiểm y tế và thanh toán toàn bộ chi phí y tế từ khi sơ cứu, cấp cứu đến khi điều trị ổn định đối với người lao động không tham gia bảo hiểm y tế.

+ Trả đủ tiền lương theo hợp đồng lao động cho người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp phải nghỉ việc trong thời gian điều trị.

+ Bồi thường cho người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp mà không do lỗi của người lao động và bị suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên.

Trường hợp do lỗi của người lao động thì người lao động cũng được trợ cấp một khoản tiền ít nhất bằng 40% mức quy định tại khoản 3 Điều này.

- Ngoài ra, nếu người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc thì người sử dụng lao động và tổ chức bảo hiểm xã hội có trách nhiệm giải quyết chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp cho người lao động.

Đối với người lao động thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc mà người sử dụng lao động chưa đóng bảo hiểm xã hội cho cơ quan bảo hiểm xã hội, thì được người sử dụng lao động trả khoản tiền tương ứng với chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội.

- Khi sức khỏe của người lao động bình phục thì người sử dụng lao động và người lao động thỏa thuận tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động hoặc sửa đổi, bổ sung nội dung hợp đồng lao động hoặc chấm dứt hợp đồng lao động đã giao kết theo quy định của pháp luật.

Lưu ý: Mức bồi thường theo tỷ lệ suy giảm khả năng lao động:

- Ít nhất bằng 1,5 tháng tiền lương theo hợp đồng nếu bị suy giảm từ 5,0% đến 10% khả năng lao động, sau đó cứ tăng 1,0% được cộng thêm 0,4 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động nếu bị suy giảm khả năng lao động từ 11% đến 80%.

- Ít nhất 30 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động cho người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên hoặc cho thân nhân người lao động bị chết do tai nạn lao động.

Căn cứ pháp lý: Điều 49 – Bộ luật Lao động 2012; Điều 5 – Nghị định 44/2013/NĐ-CP

 

Khoản 2, Điều 38 Luật An toàn, vệ sinh lao động quy định trách nhiệm của người sử dụng lao động đối với người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

Thanh toán chi phí y tế từ khi sơ cứu, cấp cứu đến khi điều trị ổn định cho người bị tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp như sau:

a) Thanh toán phần chi phí đồng chi trả và những chi phí không nằm trong danh mục do bảo hiểm y tế chi trả đối với người lao động tham gia bảo hiểm y tế;

b) Trả phí khám giám định mức suy giảm khả năng lao động đối với những trường hợp kết luận suy giảm khả năng lao động dưới 5% do người sử dụng lao động giới thiệu người lao động đi khám giám định mức suy giảm khả năng lao động tại Hội đồng giám định y khoa;

c) Thanh toán toàn bộ chi phí y tế đối với người lao động không tham gia bảo hiểm y tế;