Quan hệ lao động

Quá trình làm việc tại doanh nghiệp, khi người lao động muốn cải thiện các điều kiện làm việc của mình (tiền lương, tiền thưởng, phụ cấp, trợ cấp, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, điều kiện an toàn vệ sinh lao động, các khoản phúc lợi của doanh nghiệp …) thì người lao động có thể đàm phán trực tiếp để thỏa thuận với chủ sử dụng lao động để xác lập các điều kiện lao động mới tốt hơn bằng việc sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động. Đàm phán, thương lượng của từng cá nhân người lao động với chủ sử dụng lao động gọi là thương lượng cá nhân.

Trong quá trình làm việc tại doanh nghiệp, nếu người lao động và người sử dụng lao động có yêu cầu thay đổi nội dung hợp đồng lao động đã giao kết trước đó thì phải báo cho bên kia biết trước ít nhất 3 ngày làm việc về những nội dung cần sửa đổi, bổ sung.

Trong trường hợp hai bên thỏa thuận được thì việc sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động được tiến hành bằng việc ký kết phụ lục hợp đồng lao động hoặc giao kết hợp đồng lao động mới.

Căn cứ pháp lý: Điều 35 Bộ Luật Lao động 2012

 

Thương lượng tập thể là việc tập thể lao động thỏa thuận, đàm phán với người sử dụng lao động nhằm mục đích:

- Xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ;

- Xác lập các điều kiện lao động mới làm căn cứ để tiến hành ký kết thỏa ước lao động tập thể;

- Giải quyết những vướng mắc, khó khăn trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ lao động.

Căn cứ pháp lý: Điều 66 – Bộ luật Lao động 2012

 

- Thương lượng tập thể được tiến hành theo nguyên tắc thiện chí, bình đẳng, hợp tác, công khai và minh bạch.

- Thương lượng tập thể được tiến hành định kỳ hoặc đột xuất.

Việc tiến hành thương lượng tập thể định kỳ được pháp luật quy định ít nhất một năm một lần. Thời điểm cụ thể do hai bên thỏa thuận.

Việc tiến hành thương lượng tập thể đột xuất được tiến hành khi bên tập thể lao động yêu cầu hoặc khi bên người sử dụng lao động yêu cầu.

- Thương lượng tập thể được thực hiện tại địa điểm do hai bên thỏa thuận.

 

Hai bên sẽ thảo luận, đàm phán, thương lượng về các nội dung sau:

- Tiền lương, tiền thưởng, trợ cấp và nâng lương.

- Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, làm thêm giờ, nghỉ giữa ca.

- Bảo đảm việc làm đối với người lao động.

- Bảo đảm an toàn lao động, vệ sinh lao động; thực hiện nội quy lao động.

- Nội dung khác mà hai bên quan tâm.

Căn cứ pháp lý: Điều 70 – Bộ luật Lao động 2012

Đối thoại tại nơi làm việc là việc trao đổi trực tiếp giữa người sử dụng lao động với người lao động hoặc đại diện tập thể lao động với người sử dụng lao động nhằm chia sẻ thông tin, tăng cường sự hiểu biết giữa người sử dụng lao động và người lao động để xây dựng quan hệ lao động tại nơi làm việc.

Đối thoại tại nơi làm việc được tiến hành định kỳ 03 tháng một lần hoặc theo yêu cầu của một bên

Lưu ý: Hội nghị người lao động được tổ chức 12 tháng một lần tại doanh nghiệp có sử dụng từ 10 người lao động trở lên.

- Doanh nghiệp có dưới 100 lao động thì tổ chức hội nghị toàn thể người lao động.

- Doanh nghiệp có trên 100 người lao động thì tổ chức hội nghị đại biểu người lao động.

Căn cứ pháp lý: Mục 1, Chương V, Bộ luật Lao động và Chương 3 Nghị định số 60/2013/NĐ-CP ngày 19/6/2013 quy định chi tiết Khoản 3 Điều 63, Bộ luật Lao động về thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc.

* Nội dung đối thoại tại nơi làm việc

- Tình hình sản xuất, kinh doanh của người sử dụng lao động.

- Việc thực hiện hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể, nội quy, quy chế và cam kết, thỏa thuận khác tại nơi làm việc.

- Điều kiện làm việc.

- Yêu cầu của người lao động, tập thể lao động đối với người sử dụng lao động.

- Yêu cầu của người sử dụng lao động với người lao động, tập thể lao động.

- Nội dung khác mà hai bên quan tâm.

* Thành phần tham gia đối thoại tại nơi làm việc

- Bên phía người sử dụng lao động là người sử dụng lao động hoặc người được người sử dụng lao động ủy quyền hợp pháp và các thành viên đại diện cho bên người sử dụng lao động do người sử dụng lao động cử;

- Bên phía tập thể lao động là Ban chấp hành Công đoàn cơ sở hoặc đại diện Ban chấp hành Công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở ở nơi chưa thành lập công đoàn cơ sở và các thành viên đại diện cho bên tập thể người lao động do hội nghị người lao động bầu.

* Quy trình đối thoại tại nơi làm việc

- Chuẩn bị nội dung, thời gian, địa điểm và thành phần tham gia đối thoại:

+ Sau 60 ngày kể từ ngày kết thúc lần đối thoại trước liền kề, người sử dụng lao động và Chủ tịch Công đoàn cơ sở hoặc người đại diện Ban chấp hành Công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở ở nơi chưa thành lập công đoàn cơ sở tổng hợp nội dung và gửi nội dung yêu cầu đối thoại cho bên đối thoại;

+ Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được nội dung yêu cầu đối thoại, người sử dụng lao động và Chủ tịch Công đoàn cơ sở hoặc người đại diện Ban chấp hành Công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở ở nơi chưa thành lập công đoàn cơ sở thống nhất nội dung, thời gian, địa điểm, thành phần tham gia đối thoại định kỳ tại nơi làm việc;

+ Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày hai bên thống nhất nội dung, thời gian, địa điểm, thành phần tham gia đối thoại định kỳ tại nơi làm việc, người sử dụng lao động ra quyết định bằng văn bản tổ chức đối thoại định kỳ tại nơi làm việc. Quyết định tổ chức đối thoại định kỳ tại nơi làm việc phải được gửi được đến Chủ tịch Công đoàn cơ sở hoặc đại diện Ban chấp hành Công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở ở nơi chưa thành lập công đoàn cơ sở và các thành viên tham gia đối thoại ít nhất 05 ngày làm việc trước ngày tổ chức đối thoại;

+ Người sử dụng lao động và Chủ tịch Công đoàn cơ sở hoặc người đại diện Ban chấp hành Công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở ở nơi chưa thành lập công đoàn cơ sở phân công các thành viên tham gia đối thoại của mỗi bên chuẩn bị nội dung, số liệu, tài liệu liên quan cho đối thoại.

- Tổ chức đối thoại: Trong quá trình đối thoại, các thành viên tham gia đối thoại có trách nhiệm cung cấp thông tin, số liệu, tư liệu, trao đổi, thảo luận dân chủ các nội dung đối thoại.

- Kết thúc đối thoại: Người sử dụng lao động có trách nhiệm niêm yết công khai biên bản cuộc đối thoại định kỳ tại nơi làm việc tại doanh nghiệp, phòng, ban, phân xưởng, tổ, đội sản xuất và đăng tải trên hệ thống truyền thanh, thông tin nội bộ hoặc trang thông tin điện tử của doanh nghiệp.

 

- Thỏa ước lao động tập thể là văn bản thỏa thuận giữa tập thể lao động và người sử dụng lao động về các điều kiện lao động mà hai bên đã đạt được thông qua thương lượng tập thể. Thỏa ước lao động tập thể gồm thỏa ước lao động tập thể doanh nghiệp, thỏa ước lao động tập thể ngành và hình thức thỏa ước lao động tập thể khác.

- Nội dung thỏa ước lao động tập thể không được trái với quy định của pháp luật và phải có lợi hơn cho người lao động so với quy định của pháp luật.

- Thỏa ước lao động tập thể chỉ được ký kết khi các bên đã đạt được thỏa thuận tại phiên họp thương lượng tập thể và:

+ Có trên 50% số người của tập thể lao động biểu quyết tán thành nội dung thương lượng tập thể đã đạt được trong trường hợp ký thỏa ước lao động tập thể doanh nghiệp;

+ Có trên 50% số đại diện Ban chấp hành Công đoàn cơ sở hoặc công đoàn cấp trên cơ sở biểu quyết tán thành nội dung thương lượng tập thể đã đạt được trong trường hợp ký thỏa ước lao động tập thể ngành.

- Thỏa ước lao động tập thể doanh nghiệp có thời hạn từ 01 năm đến 03 năm . Đối với doanh nghiệp lần đầu tiên ký kết thỏa ước lao động tập thể, thì có thể ký kết với thời hạn dưới 01 năm.

Lưu ý:

Trường hợp quyền, nghĩa vụ, lợi ích của các bên trong hợp đồng lao động đã giao kết trước ngày thỏa ước lao động tập thể có hiệu lực thấp hơn các quy định tương ứng của thỏa ước lao động tập thể, thì phải thực hiện những quy định tương ứng của thỏa ước lao động tập thể.

- Bước 1: Đề xuất yêu cầu và nội dung cần thương lượng tập thể

Trong quá trình thực hiện các quyền và nghĩa vụ trong quan hệ lao động, nếu tập thể lao động thấy cần phải tiến hành thương lượng tập thể thì một trong hai bên đưa ra lời đề nghị với bên kia.

Theo quy định của pháp luật, khi một bên đưa ra yêu cầu, bắt buộc phía bên kia phải chấp nhận yêu cầu và ngồi vào đàm phán thương lượng, còn việc thương lượng có thành hay không hoàn toàn phụ thuộc vào các bên. Quy định này nhằm mục đích buộc bên nhận được yêu cầu phải có thiện chí với bên đưa ra yêu cầu.

Ngoài ra, pháp luật cũng yêu cầu người sử dụng lao động phải chịu trách nhiệm vật chất cụ thể cho việc thương lượng tập thể, xây dựng thỏa ước lao động tập thể để đảm bảo cho tinh thần cộng tác trong thương lượng tập thể, cụ thể:

- Mọi chi phí cho việc thương lượng, ký kết, sửa đổi, bổ sung, gửi và công bố thỏa ước lao động tập thể do người sử dụng lao động chi trả.

- Các đại diện tập thể lao động là người lao động do doanh nghiệp trả lương thì vẫn được trả lương trong thời gian tham gia thương lượng, ký kết thỏa ước tập thể.

- Bước 2: Chuẩn bị thương lượng tập thể

Trước khi bắt đầu phiên họp thương lượng tập thể ít nhất 10 ngày, người sử dụng lao động phải cung cấp thông tin về tình hình hoạt động sản xuất, kinh doanh,  khi tập thể lao động yêu cầu trừ những bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ của người sử dụng lao động.

Đại diện thương lượng của bên tập thể lao động lấy ý kiến của người lao động về đề xuất của người lao động với người sử dụng lao động và các đề xuất của người sử dụng lao động với tập thể lao động (lấy ý kiến trực tiếp của tập thể lao động hoặc gián tiếp thông qua hội nghị đại biểu).

Chậm nhất 05 ngày làm việc trước khi bắt đầu phiên hợp thương lượng tập thể, bên đề xuất yêu cầu thương lượng tập thể phải thông báo bằng văn bản cho bên kia biết về những nội dung dự kiến tiến hành thương lượng tập thể.

Bước 3: Tiến hành thương lượng tập thể

Bên nhận được yêu cầu phải chấp nhận việc thương lượng. Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu thương lượng, các bên thỏa thuận thời gian bắt đầu phiên họp thương lượng. Trong quá trình thương lượng, hai bên phải thông báo cho nhau những thông tin liên quan đến thỏa ước lao động tập thể, phải có biên bản để ghi rõ những điều khoản hai bên đã thỏa thuận và những điều khoản chưa thỏa thuận được.

Thời gian bắt đầu thương lượng chậm nhất là 30 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu thương lượng tập thể.

Điều căn bản nhất trong quá trình thương lượng tập thể chính là việc hai bên phải có thiện chí với nhau. Những yêu cầu mà hai bên đưa ra trong quá trình thương lượng cần phải gắn với điều kiện hoàn cảnh thực tế của doanh nghiệp. Có như vậy, việc thương lượng mới đạt được kết quả tốt.

Khi bế tắc trong thương lượng, nếu hai bên thấy khó có thể đạt được thỏa thuận trong một nội dung thương lượng thì hai bên có quyền tiếp tục đề nghị thương lượng hoặc tiến hành các thủ tục giải quyết tranh chấp lao động. Nếu không bên nào tiếp tục theo đuổi thương lượng tập thể nữa thì hai bên thường chấp nhận các điều kiện lao động cũ đã được xác lập trước khi thương lượng tập thể.

Lưu ý: Người sử dụng lao động chịu trách nhiệm tổ chức phiên họp thương lượng tập thể theo thời gian, địa điểm, do hai bên đã thỏa thuận.

Bước 4: Phổ biến và lấy ý kiến biểu quyết của tập thể lao động về các nội dung đã thỏa thuận

Theo quy định của pháp luật hiện hành, trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày kết thúc phiên họp thương lượng, đại diện thương lượng của bên tập thể lao động phải phổ biến rộng rái, công khai biên bản phiên họp thương lượng tập thể cho tập thể lao động biết và lấy ý kiến biểu quyết của tập thể lao động về các nội dung đã thỏa thuận.

 

* Vai trò của công đoàn trong quan hệ lao động

- Công đoàn cơ sở thực hiện vai trò đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên công đoàn, người lao động; tham gia, thương lượng, ký kết và giám sát việc thực hiện thỏa ước lao động tập thể, thang lương, bảng lương, định mức lao động, quy chế trả lương, quy chế thưởng, nội quy lao động, quy chế dân chủ ở doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức; tham gia, hỗ trợ giải quyết tranh chấp lao động; đối thoại, hợp tác với người sử dụng lao động xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ tại doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức.

- Công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở có trách nhiệm hỗ trợ công đoàn cơ sở thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của công đoàn cơ sở; tuyên truyền, giáo dục, nâng cao hiểu biết pháp luật về lao động, pháp luật về công đoàn cho người lao động.

- Ở những nơi chưa thành lập tổ chức công đoàn cơ sở, công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở thực hiện vai trò, trách nhiệm của công đoàn cơ sở.

Căn cứ pháp lý: Điều 188, Bộ Luật lao động 2012

* Quyền gia nhập công đoàn của người lao động

- Người lao động làm việc trong doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức có quyền thành lập, gia nhập và hoạt động công đoàn theo quy định của Luật Công đoàn.

- Công đoàn cấp trên cơ sở có quyền và trách nhiệm vận động người lao động gia nhập công đoàn, thành lập công đoàn cơ sở tại doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức; có quyền yêu cầu người sử dụng lao động và cơ quan quản lý nhà nước về lao động địa phương tạo điều kiện và hỗ trợ việc thành lập công đoàn cơ sở.

- Khi công đoàn cơ sở được thành lập theo đúng quy định của Luật công đoàn thì người sử dụng lao động phải thừa nhận và tạo điều kiện thuận lợi để công đoàn cơ sở hoạt động.

Căn cứ pháp lý: Điều 189 Bộ luật Lao động 2012

* Những hành vi bị nghiêm cấm đối với người sử dụng lao động liên quan đến thành lập, gia nhập và hoạt động công đoàn

- Cản trở, gây khó khăn cho việc thành lập, gia nhập và hoạt động công đoàn của người lao động.

- Ép buộc người lao động thành lập, gia nhập và hoạt động công đoàn.

- Yêu cầu người lao động không tham gia hoặc rời khỏi tổ chức công đoàn.

- Phân biệt đối xử về tiền lương, thời giờ làm việc và các quyền và nghĩa vụ khác trong quan hệ lao động nhằm cản trở việc thành lập, gia nhập và hoạt động công đoàn của người lao động.

Căn cứ pháp lý: Điều 190 – Bộ luật Lao động 2012

 

Đình công là sự ngừng việc tạm thời, tự nguyện và có tổ chức của tập thể lao động nhằm đạt được yêu cầu trong quá trình giải quyết tranh chấp lao động.

Đình công chỉ được tiến hành đối với các tranh chấp lao động tập thể về lợic ích. Nghĩa là nó chỉ phát sinh từ việc tập thể lao động yêu cầu xác lập các điều kiện lao động mới so với quy định của pháp luật về lao động, thỏa ước lao động tập thể, nội quy lao động hoặc các quy chế, thỏa thuận hợp pháp khác trong quá trình thương lượng giữa tập thể lao động với người sử dụng lao động.

Tổ chức và lãnh đạo đình công

- Ở nơi có tổ chức công đoàn cơ sở thì đình công phải do Ban chấp hành Công đoàn cơ sở tổ chức và lãnh đạo.

- Ở nơi chưa có tổ chức công đoàn cơ sở thì đình công do tổ chức công đoàn cấp trên tổ chức và lãnh đạo theo đề nghị của người lao động.

Căn cứ pháp lý: Mục 3, Chương 14, Bộ luật Lao động năm 2012.

 

Một cuộc đình công đúng pháp luật phải gồm có 3 bước:

Bước 1: Lấy ý kiến tập thể lao động.

Đối với tập thể lao động có tổ chức công đoàn cơ sở thì lấy ý kiến của thành viên Ban chấp hành công đoàn cơ sở và tổ trưởng các tổ sản xuất. Nơi chưa có tổ chức công đoàn cơ sở thì lấy ý kiến của tổ trưởng các tổ sản xuất hoặc của người lao động.

Việc tổ chức lấy ý kiến có thể thực hiện bằng phiếu hoặc chữ ký.

Thời gian, hình thức lấy ý kiến để đình công do Ban chấp hành công đoàn quyết định và phải thông báo cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 01 ngày.

- Bước 2: Ra quyết định đình công

Khi có trên 50% số người được lấy ý kiến đồng ý với phương án của Ban chấp hành Công đoàn đưa ra thì Ban chấp hành Công đoàn ra quyết định đình công bằng văn bản.

Quyết định đình công phải có các nội dung sau đây:

+ Kết quả lấy ý kiến đình công;

+ Thời điểm bắt đầu đình công, địa điểm đình công;

+ Phạm vi tiến hành đình công;

+ Yêu cầu của tập thể lao động;

+ Họ tên của người đại diện cho Ban chấp hành Công đoàn và địa chỉ liên hệ để giải quyết.

Ít nhất là 05 ngày làm việc trước ngày bắt đầu đình công, Ban chấp hành Công đoàn tửi quyết định đình công cho người sử dụng lao động, đồng thời gửi 01 bản cho cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp tỉnh, 01 bản cho công đoàn cấp tỉnh.

- Bước 3: Tiến hành đình công.

Đến thời điểm bắt đầu đình công, nếu người sử dụng lao động không chấp nhận giải quyết yêu cầu của tập thể lao động thì Ban chấp hành Công đoàn và tổ chức lãnh đạo đình công.

Căn cứ pháp lý: Mục 3, Chương 14, Bộ luật Lao động năm 2012.