Tranh chấp lao động

Trong quá trình thực hiện quyền và nghĩa vụ lao động, quan hệ giữa người lao động với người sử dụng lao động không phải lúc nào cũng diễn biến một cách ổn định bình thường theo đúng những thỏa thuận. Có thể sẽ xuất hiện những bất đồng về quyền và lợi trong lao động. Có những bất đồng được các bên thỏa thuận và giải quyết được, song cũng có thể có những bất đồng mà sự thương lượng của hai bên không thể giải quyết được. Tranh chấp lao động chính là những bất đồng mà việc giải quyết trực tiếp của hai bên (thông qua đối thoại, thương lượng) không thành và phải nhờ tới bên thứ 3 giải quyết.

Pháp luật lao động định nghĩa tranh chấp lao động là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ và lợi ích phát sinh giữa các bên trong quan hệ lao động. Đó là các quyền, nghĩa vụ và lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương, thu nhập và các điều kiện lao động khác, về thực hiện hợp đồng, thỏa ước lao động tập thể và trong quá trình học nghề .. Chỉ những tranh chấp phát sinh trong phạm vi quan hệ lao động tại doanh nghiệp mới gọi là tranh chấp lao động, những tranh chấp không xuất phát từ quá trình sử dụng thuê mướn lao động thì không gọi là tranh chấp lao động.

Hòa giải viên lao động

Hòa giải viên lao động do cơ quan quản lý nhà nước về lao động huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh cử.

Người lao động có thể hỏi Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi mình làm việc để biết ai là Hòa giải viên lao động trên địa bàn mình.

 

Để giải quyết tranh chấp lao động, pháp luật lao động chia tranh chấp lao động thành 2 loại là tranh chấp lao động cá nhân và tranh chấp lao động tập thể, để từ đó quy định 2 trình tự, thủ tục giải quyết loại tranh chấp đó.

a) Giải quyết tranh chấp lao động cá nhân

- Tranh chấp lao động cá nhân là tranh chấp lao động giữa cá nhân người lao động với người sử dụng lao động. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân thuộc về Hòa giải viên lao động và Tòa án nhân dân.

- Việc giải quyết tranh chấp lao động cá nhân, trước hết thuộc về Hòa giải viên lao động, trừ các tranh chấp lao động sau đây thì các bên có thể đề nghị Tòa án nhân dân giải quyết:

+ Về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc tranh chấp về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động;

+ Về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động;

+ Giữa người giúp việc gia đình với người sử dụng lao động;

+ Về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, về bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế;

+ Về bồi thường thiệt hại giữa người lao động với doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

- Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu hòa giải, hòa giải viên lao động phải kết thúc việc hòa giải.

- Trong trường hợp hòa giải không thành hoặc một trong hai bên không thực hiện các thỏa thuận trong biên bản hòa giải thành hoặc hết thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu hòa giải mà hòa giải viên lao động không tiến hành hòa giải thì mỗi bên tranh chấp có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Thời hiệu yêu cầu Hòa giải viên lao động thực hiện hòa giải tranh chấp lao động cá nhân là 06 tháng, kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà mỗi bên tranh chấp cho rằng, quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm.

Thời hiệu yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp lao động cá nhân là 01 năm, kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà mỗi bên tranh chấp cho rằng, quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm.

b) Trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp lao động tập thể

- Tranh chấp lao động tập thể là tranh chấp lao động giữa tập thể người lao động với người sử dụng lao động.

- Có 2 loại tranh chấp lao động tập thể là tranh chấp lao động tập thể về quyền và tranh chấp lao động tập thể về lợi ích. Tranh chấp lao động tập thể về quyền là tranh chấp giữa tập thể lao động với người sử dụng lao động phát sinh từ việc giải thích và thực hiện khác nhau quy định của pháp luật về lao động, thỏa ước lao động tập thể, nội quy lao động, quy chế và thỏa thuận hợp pháp khác. Tranh chấp lao động tập thể về lợi ích là tranh chấp lao động phát sinh từ việc tập thể lao động yêu cầu xác lập các điều kiện lao động mới so với quy định của pháp luật về lao động, thỏa ước lao động tập thể, nội quy lao động hoặc các quy chế, thỏa thuận hợp pháp khác trong quá trình thương lượng giữa tập thể lao động với người sử dụng lao động.

- Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động tập thể về quyền bao gồm:

+ Hòa giải viên lao động;

+ Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện).

+ Tòa án nhân dân.

- Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động tập thể về lợi ích bao gồm:

+ Hòa giải viên lao động;

+ Hội đồng trọng tài lao động;

Lưu ý: Khi phát sinh tranh chấp lao động tập thể, tập thể người lao động nên lựa chọn công đoàn cơ sở làm đại diện tranh chấp để giải quyết tranh chấp lao động tập thể theo đúng trình tự, thủ tục. Trong thời gian giải quyết tranh chấp, tập thể người lao động phải làm việc bình thường và không nên có những hành động quá khích như nghỉ việc hoặc đình công.