Chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

Theo khoản 1 Điều 142 và khoản 1 Điều 143 của Bộ luật Lao động quy định thì tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp được hiểu như sau:

Tai nạn lao động là tai nạn gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể hoặc gây tử vong cho người lao động, xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động.

Quy định này được áp dụng đối với cả người học nghề, tập nghề và thử việc.

Bệnh nghề nghiệp là bệnh phát sinh do điều kiện lao động có hại của nghề nghiệp tác động đối với người lao động.

Điều 42 Luật Bảo hiểm xã hội đối tượng áp dụng chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp là người lao động quy định:

+ Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng, kể cả hợp đồng lao động được ký kết giữa người sử dụng lao động với người đại diện theo pháp luật của người dưới 15 tuổi theo quy định của pháp luật về lao động;

+ Người làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng đến dưới 03 tháng;

+ Cán bộ, công chức, viên chức;

+ Công nhân quốc phòng, công nhân công an, người làm công tác khác trong tổ chức cơ yếu;

+ Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật công an nhân dân; người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân;

+ Hạ sĩ quan, chiến sĩ quân đội nhân dân; hạ sĩ quan, chiến sĩ công an nhân dân phục vụ có thời hạn; học viên quân đội, công an, cơ yếu đang theo học được hưởng sinh hoạt phí;

+ Người quản lý doanh nghiệp, người quản lý điều hành hợp tác xã có hưởng tiền lương;

Khoản 1, Điều 43 Luật Bảo hiểm xã hội quy định người lao động được hưởng chế độ tai nạn lao động khi có đủ các điều kiện thuộc một trong các trường hợp sau đây:

Tại nơi làm việc và trong giờ làm việc;

Ngoài nơi làm việc hoặc ngoài giờ làm việc khi thực hiện công việc theo yêu cầu của người sử dụng lao động;

Trên tuyến đường đi và về từ nơi ở đến nơi làm việc trong khoảng thời gian và tuyến đường hợp lý.

Theo quy định tại Điều 43 Luật Bảo hiểm xã hội thì người lao động bị tai nạn ngoài nơi làm việc hoặc ngoài giờ làm việc khi thực hiện công việc theo yêu cầu của người sử dụng lao động và suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên thì được hưởng chế độ tai nạn lao động.

Trường hợp người bị tai nạn giao thông trên đường làm việc do người sử dụng lao động yêu cầu được xem xét, giải quyết hưởng chế độ tai nạn lao động theo quy định.

Điều 44 Luật Bảo hiểm xã hội quy định người lao động được hưởng chế độ bệnh nghề nghiệp khi có đủ các điều kiện sau đây:

1. Bị bệnh thuộc danh mục bệnh nghề nghiệp do Bộ Y tế và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành khi làm việc trong môi trường hoặc nghề có yếu tố độc hại;

2. Suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên do bị bệnh theo quy định trên.

 

Tại khoản 1 Điều 45 Luật Bảo hiểm xã hội quy định, người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp được giám định hoặc giám định lại mức suy giảm khả năng lao động trong những trường hợp sau đây:

+ Sau khi thương tật, bệnh tật đã được điều trị ổn định;

+ Sau khi thương tật, bệnh tật tái phát đã được điều trị ổn định.

Khoản 2 Điều 45 Luật Bảo hiểm xã hội quy định người lao động được giám định tổng hợp mức suy giảm khả năng lao động khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

+ Vừa bị tai nạn lao động vừa bị bệnh nghề nghiệp;

+ Bị tai nạn lao động nhiều lần;

+ Bị nhiều bệnh nghề nghiệp.

 

Theo quy định tại khoản 5 Điều 18 và khoản 3 Điều 21 của Luật Bảo hiểm xã hội thì trách nhiệm giới thiệu người lao động đi giám định mức suy giảm khả năng lao động được quy định như sau:

- Người sử dụng lao động có trách nhiệm giới thiệu người lao động đi khám giám định mức suy giảm khả năng lao động tại Hội đồng giám định y khoa đối với các trường hợp sau:

+ Sau khi thương tật, bệnh tật đã được điều trị ổn định (giám định lần đầu đối với các trường hợp bị tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp lần đầu);

+ Vừa bị tai nạn lao động vừa bị bệnh nghề nghiệp;

+ Bị tai nạn lao động nhiều lần;

+ Bị nhiều bệnh nghề nghiệp.

- Người lao động được quyền chủ động đi khám giám định mức suy giảm khả năng lao động trong trường hợp sau khi thươg tật, bệnh tật tái phát đã được điều trị ổn định (giám định lại mức suy giảm khả năng lao động).

Điều 46 Luật Bảo hiểm xã hội quy định:

- Người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 5% đến 30% thì được hưởng trợ cấp một lần.

- Mức trợ cấp một lần được quy định như sau:

+ Suy giảm 5% khả năng lao động thì được hưởng 05 lần mức lương cơ sở, sau đó cứ suy giảm thêm 1% thì được hưởng thêm 0,5 lần mức lương cơ sở;

+ Ngoài mức trợ cấp quy định tại điểm a khoản này, còn được hưởng thêm khoản trợ cấp tính theo số năm đã đóng bảo hiểm xã hội, từ một năm trở xuống thì được tính bằng 0,5 tháng, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng bảo hiểm xã hội được tính thêm 0,3 tháng tiền lương đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi nghỉ việc để điều trị.

Ví dụ: Người lao động có 10 năm tham gia bảo hiểm xã hội và bị suy giảm khả năng lao động 17% do tai nạn lao động.

Người lao động bị suy giảm khả năng lao động là 17% do tai nạn lao động nên được hưởng trợ cấp tai nạn lao động một lần. Mức trợ cấp được tính như sau:

* Khoản trợ cấp tính theo mức suy giảm khả năng lao động:

- Suy giảm 5% khả năng lao động được tính bằng 5 lần mức lương cơ sở.

- Suy giảm 12% khả năng lao động tiếp theo đượ tính bằng 6 lần mức lương cơ sở (12 x 0,5 lần mức lương cơ sở).

Như vậy, khoản trợ cấp tính theo mức suy giảm khả năng lao ođọng của người lao động là 11 lần mức lương cơ sở.

* Khoản trợ cấp tính theo số năm đóng bảo hiểm xã hội:

- 01 năm đóng bảo hiểm xã hội đầu tiên được tính bằng 0,5 tháng tiền lương đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi nghỉ việc để điều trị.

- 09 năm đóng bảo hiểm xã hội tiếp theo được tính bằng 2,7 tháng tiền lương đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi nghỉ việc để điều trị (9 x 0,3 tháng tiền lương).

Như vậy, khoản trợ cấp tính theo số năm đóng bảo hiểm xã hội của người lao động là 3,2 tháng tiền lương đóng bảo hiểm xã hội.

* Mức trợ cấp tai nạn lao động một lần của người lao động là tổng hai khoản trợ cấp nêu trên:

(11 lần mức lương cơ sở + 3,2 tháng tiền lương đóng bảo hiểm xã hội).

Điều 47 Luật Bảo hiểm xã hội:

1. Người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 31% trở lên thì được hưởng trợ cấp hằng tháng.

2. Mức trợ cấp hằng tháng được quy định như sau:

a) Suy giảm 31% khả năng lao động thì được hưởng bằng 30% mức lương cơ sở, sau đó cứ suy giảm thêm 1% thì được hưởng thêm 2% mức lương cơ sở;

b) Ngoài mức trợ cấp quy định tại điểm a khoản này, hằng tháng còn được hưởng thêm một khoản trợ cấp tính theo số năm đã đóng bảo hiểm xã hội, từ một năm trở xuống được tính bằng 0,5%, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng bảo hiểm xã hội được tính thêm 0,3% mức tiền lương đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi nghỉ việc để điều trị.  

Ví dụ: Ông T có 16 năm tham gia bảo hiểm xã hội và bị suy giảm khả năng lao động 54% do bệnh nghề nghiệp.

Ông T bị suy giảm khả năng lao động là 54% nên được hưởng trợ cấp bệnh nghề nghiệp hằng tháng. Mức trợ cấp được tính như sau:

* Khoản trợ cấp tính theo mức suy giảm khả năng lao động:

- Suy giảm 31% khả năng lao động tương ứng với 30% mức lương cơ sở.

- Suy giảm 23% khả năng lao động tiếp theo được tính bảng 46% mức lương cơ sở (23 x 2% mức lương cơ sở).

Như vậy, khoản trợ cấp tính theo mức suy giảm khả năng lao động của ông T là 76% mức lương cơ sở.

 

* Khoản trợ cấp tính theo số năm đóng bảo hiểm xã hội

- 01 năm đóng bảo hiểm xã hội đầu tiên được tính bằng 0,5% tháng tiền lương đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi nghỉ việc để điều trị.

- 15 năm đóng bảo hiểm xã hội tiếp theo được tính bằng 4,5% tháng tiền lương cơ sở của tháng liền kề trước khi nghỉ việc để điều trị.

Như vậy, khoản trợ cấp tính theo số năm đóng bảo hiểm xã hội của ông T là 5% tháng tiền lương đóng bảo hiểm xã hội.

* Mức trợ cấp tai nạn lao động hàng tháng của ông T là tổng của 2 khoản trợ cấp nêu trên:

(76% mức lương cơ sở + 5% tháng tiền lương đóng bảo hiểm xã hội)