Bảo vệ chăm sóc trẻ em

 Trẻ em là đối tượng được Nhà nước đặc biệt quan tâm. Trong những năm qua, Đảng, Nhà nước Việt Nam đã từng bước xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, ban hành các chính sách và thực hiện nhiều chương trình liên quan đến Bảo vệ trẻ em (BVTE), đảm bảo tính thống nhất, hài hòa với pháp luật quốc tế, kịp thời ứng phó với những diễn biến phát sinh từ những mối quan hệ mới trong xã hội. Có rất nhiều chính sách, chương trình đã được xây dựng và thực hiện nhằm giải quyết những khía cạnh khác nhau trong lĩnh vực BVTE. Những nguyên tắc, vai trò và trách nhiệm cơ bản của hệ thống BVTE đã được quy định trong Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em do Quốc hội nước Việt Nam thông qua năm 1991 và sửa đổi năm 2004.  Ở Việt Nam, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt bao gồm 10 nhóm đối tượng:

1. Trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi

2. Trẻ em khuyết tật, tan tật

3. Trẻ em là nạn nhân của chất độc hóa học

4. Trẻ em nhiễm HIV/AIDS

5. Trẻ em phải làm việc nặng nhọc, nguy hiểm, tiếp xúc với chất độc hại

6. Trẻ em phải làm việc xa gia đình

7. Trẻ em lang thang

8. Trẻ em bị xâm hại tình dục

9. Trẻ em nghiện ma túy

10. Trẻ em vi phạm pháp luật

            Các chính sách, chương trình BVTE đã cố gắng bao phủ tất cả 10 nhóm đối tượng TE CHCĐB nêu trên. Bên cạnh việc từng bước củng cố, kiện toàn hệ thống tổ chức BVCSTE, nâng cấp, hoàn thiện mạng lưới tổ chức và dịch vụ BVTE; tăng cường ngân sách phân bổ cho hoạt động sự nghiệp BVTE, Việt Nam tiếp tục hoàn thiện hệ thống luật pháp, chính sách đáp ứng những yêu cầu mới nảy sinh liên quan tới thực hiện các quyền của trẻ em; chọn lọc và đưa mục tiêu, chỉ tiêu quan trọng về BVCSGD trẻ em vào kế hoạch phát triển kinh tế xã hội ở cấp quốc gia và địa phương; nghiên cứu, ban hành nhiều chính sách, chương trình BVTE trong tình hình mới ở tầm quốc gia.

Trên phương diện BVTE bị bạo lực, bị xâm hại tình dục, Nhà nước đã ban hành một số văn bản quy phạm pháp luật có liên quan, như: Nghị định số 71/2011/NĐ-CP ngày 22/08/2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em; Nghị định số 91/2011/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em; Nghị định số 144/2013/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2013 của Chính phủ quy định hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả  đối với từng hành vi vi phạm hành chính; thẩm quyền xử phạt, mức phạt tiền cụ thể theo từng chức danh và thẩm quyền lập biên bản đối với vi phạm hành chính về bảo trợ, cứu trợ xã hội và bảo vệ, chăm sóc trẻ em; Nghị định số 136/2013/NĐ-CP ngày 21 tháng 10 năm 2013 của Chính phủ  quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội; Quyết định số 267/QĐ-TTg ngày 22/2/2011 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Chương trình quốc gia bảo vệ trẻ em giai đoạn 2011-2015; Thông tư số 23/2010/TT-LĐTBXH ngày 16 tháng 8 năm 2010 của Bộ LĐTBXH quy định về quy trình can thiệp, trợ giúp trẻ em bị bạo lực, bị xâm hại tình dục; Thông tư Liên tịch số 29/2014/TTLT-BLĐTBXH-BTC ngày 24 tháng 10 năm 2014 của Bộ LĐTBXH và Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 136/2013/NĐ-CP ngày 21 tháng 10 năm 2013 quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội v.v.

Pháp luật liên quan đến BVTE bị bạo lực, bị xâm hại tình dục còn thiếu cụ thể, có nhiều khoảng trống; chưa có quy định riêng về chính sách trợ giúp xã hội đối với các nhóm đối tượng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt (TECHCĐB), trong đó có nhóm đối tượng trẻ em bị bạo lực, bị xâm hại tình dục. Nghị định số 136/2013/NĐ-CP ngày 21 tháng 10 năm 2013 (thay thế Nghị định số 67/2007/NĐ-CP và Nghị định sửa đổi số 13/2010/NĐ-CP) về chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội, trong đó cũng chỉ có 4 nhóm đối tượng TECHCĐB mà thôi. Nghị định này quy định về chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên tại cộng đồng; trợ giúp xã hội đột xuất; hỗ trợ nhận chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng và chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xã hội và nhà xã hội.

Trong các chính sách, chương trình được Nhà nước ban hành, đặc biệt cần đề cập đến Chương trình Quốc gia Bảo vệ trẻ em giai đoạn 2011-2015 (được Thủ tướng Chính phủ ban hành tại Quyết định số 267/QĐ-TTg). Mục tiêu tổng quát của Chương trình là “Tạo dựng môi trường sống an toàn, lành mạnh mà ở đó tất cả trẻ em đều được bảo vệ. Chủ động phòng ngừa, giảm thiểu, loại bỏ các nguy cơ gây tổn hại cho trẻ em, giảm thiểu tình trạng trẻ em rơi vào hoàn cảnh đặc biệt và trẻ em bị xâm hại, trẻ em bị bạo lực. Trợ giúp, phục hồi kịp thời cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và trẻ em bị xâm hại, trẻ em bị bạo lực, tạo cơ hội để các em được tái hòa nhập cộng đồng và bình đẳng về cơ hội phát triển”. Chương trình bao gồm 05 dự án, trong đó cần kể đến Dự án xây dựng và nhân rộng các mô hình trợ giúp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt dựa vào cộng đồng. Dự án này gồm có 4 mô hình, bao quát 4 nhóm đối tượng TECHCĐB, trong đó có Mô hình phòng ngừa, trợ giúp trẻ em bị bạo lực, bị xâm hại tình dục dựa vào cộng đồng (mô hình thứ ba), với mục tiêu: giảm hàng năm 10% số trẻ em bị xâm hại tình dục, bị bạo lực; 100% trẻ em được phát hiện bị xâm hại tình dục, bị bạo lực được can thiệp, trợ giúp. Mô hình được thực hiện tại 45 tỉnh, thành phố với 45 huyện và 135 xã, thông qua các hoạt động:

- Tổ chức trị liệu tâm lý và phục hồi sức khoẻ cho trẻ em bị xâm hại tình dục, trẻ em bị bạo lực; trợ giúp các em trong quá trình trị liệu tâm lý và phục hồi sức khoẻ.

- Tổ chức các lớp đào tạo về các kiến thức, kỹ năng hòa nhập cộng đồng, kỹ năng tự bảo vệ mình cho trẻ em bị xâm hại tình dục, trẻ em bị bạo lực.

- Tổ chức các lớp hướng nghiệp, học nghề cho trẻ em và hỗ trợ các em tự tạo việc làm bằng cách trợ cấp vốn cho các em hoặc gia đình các em, giúp các em tiêu thụ sản phẩm nếu có điều kiện để các em có sinh kế ổn định.

- Hỗ trợ các em và các doanh nghiệp nhận và sử dụng lao động khi các em đã thành nghề và đến tuổi lao động giúp các em có việc làm và thu nhập ổn định.

- Tổ chức các hoạt động phục hồi sức khoẻ, phục hồi tâm lý cho trẻ em bị xâm hại tình dục, trẻ em bị bạo lực và kết nối với các dịch vụ bảo vệ trẻ em khi cần thiết. Tổ chức các hoạt động tư vấn, tham vấn; trợ giúp trẻ em về đời sống lúc khó khăn, trợ giúp về y tế, giáo dục và tiếp cận các phúc lợi xã hội khác dành cho trẻ em.

- Trợ giúp gia đình các em tăng cường khả năng chăm sóc bảo vệ các em thông các hoạt động tập huấn hoặc hội họp tại địa phương; trợ giúp các gia đình chăm sóc thay thế trong trường hợp phải tách trẻ em bị XHTD, trẻ em bị bạo lực khỏi gia đình cha mẹ đẻ.

- Tổ chức các hoạt động nghiên cứu, thăm quan học hỏi kinh nghiệm, kiểm tra, giám sát đánh giá, hội nghị, hội thảo, toạ đàm rút kinh nghiệm triển khai và nhân rộng mô hình ở cấp trung ương, tỉnh, huyện và xã.

- Tổ chức các hoạt động khác tuỳ theo nhu cầu và điều kiện thực tế của địa phương.

Các địa phương, khi áp dụng chính sách trợ giúp xã hội cho trẻ em bị bạo lực, bị xâm hại tình dục, thường vận dụng từ các Chương trình hành động Quốc gia vì trẻ em giai đoạn 2012-2020, Chương trình Quốc gia Bảo vệ trẻ em giai đoạn 2011-2015, Chương trình vận động quà Tết, quà Trung thu…; chính sách của địa phương hỗ trợ các mục tiêu chăm sóc sức khỏe, giáo dục, văn hóa vui chơi giải trí… Thông qua việc thí điểm các mô hình BVCSTE, công tác quản lý, phát hiện và giải quyết các vụ việc BLXHTE ở các địa phương đã có chuyển biến tích cực, nhiều địa phương đã chủ động trong việc nắm bắt tình hình, giải quyết kịp thời các vụ việc; không quá thiên về xử lý, truy tố thủ phạm mà đã quan tâm, ưu tiên việc bảo vệ, trợ giúp TE là nạn nhân của các hành vi BL, XH. Nhiều địa phương đã ban hành cơ chế, chính sách đặc thù để thực hiện công tác BVCSTE như: Quảng Ninh đã dành 1% ngân sách địa phương để thực hiện công tác BVCSTE. Ninh Thuận có chính sách hỗ trợ gạo cho học sinh dân tộc nghèo đến trường. Bình Dương có chính sách miễn giảm tiền xe buýt cho TE khuyết tật. Cà Mau có chính sách hỗ trợ tiền đò cho TE nghèo đến trường. Điện Biên có cơ chế hỗ trợ chỗ ở cho học sinh dân tộc ít người theo học các trường theo hình thức nội trú hoặc bán trú dân nuôi. Đội ngũ cán bộ chuyên trách BVCSTE cấp xã và đội ngũ cộng tác viên BVCSTE thôn, bản cũng đã được nhiều địa phương quan tâm củng cố về số lượng và có chính sách phụ cấp hàng tháng với mức tối đa bằng 20% lương tối thiểu (Quảng Ninh, Thái Nguyên, Quảng Nam, Đồng Tháp, An Giang, Cà Mau, Gia Lai...).

Trước những biến đổi lớn về xã hội khi tham gia sâu rộng hơn vào các quá trình toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam sẽ càng gặp nhiều hạn chế, thách thức trong việc phòng ngừa, quản lý, phát hiện, can thiệp, trợ giúp trẻ em có nguy cơ rơi vào hoàn cảnh đặc biệt, nhất là nhóm đối tượng trẻ em bị BL, bị XHTD. Trong thời gian tiếp theo, Việt Nam sẽ tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện hệ thống pháp luật, ban hành những chính sách, chương trình BVTE trong tình hình mới tầm quốc gia; nhằm bảo vệ có hiệu quả hơn, làm giảm thiểu tình hình trẻ em bị bạo lực, bị xâm hại tình dục./.